Này thì chết…


Tiên sư cái lão chồng già
Sắp sửa xuống lỗ rồi mà còn dê
Ở nhà vợ có lại chê
Sang nhà hàng xóm ô kê hát hò
Bao năm bà đã dặn dò
Tôi mà còn sống cấm bò đi đâu
Vậy mà vẫn cứ trẻ trâu
Thấy bà bên đó là bâu ngay vào
Bỏ tôi cục tức dâng trào
Điên lên một búa bổ vào là xong
Ở nhà có bến nước trong
Lại không chịu uống cứ mong đục ngầu
Bà cho một phát nát nhầu
Là ông đi gấp xuống chầu Diêm Vương….!!!

Chị Hằng kể chuyện Trung Thu

Nhân khi đến Tết trung thu

Cuội ta nằm bẹt thu lu góc nhà
(Thực ra Cuội ngủ gốc đa)
Thế là tranh thủ Hằng Nga giáng trần
Hằng Nga bèn táp xuống sân
Đúng nơi bọn trẻ chơi gần đống rơm
Lúc này mười tám giờ hơn
Các em còn mải ăn cơm trong nhà
Sân đình chẳng một bóng ma
Mỗi ông bảo vệ đi ra chặn đầu
“Cô kia chập tối đi đâu?
Trung Thu lễ hội còn lâu tới giờ”
“Dạ thưa! Xin bác hiểu cho…”
“Hiểu gì? Không thể bày trò được đâu
Tôi già rụng tóc, bạc râu
Làm gì được nữa mà câu với cò…”
“Dạ thưa! Xin bác hiểu cho…”
“Đã bảo không hiểu! Hay cô điếc rồi?
Đây là sân của làng tôi
Hôm nay tổ chức vui chơi đêm rằm
Làng tôi tổ chức hàng năm
Cứ tháng Tám, ngày mười lăm như này”
Chị Hằng bèn chắp hai tay
“Cháu trên Thượng giới xuống đây bác à”
“Thì ra là chị Hằng Nga
Tôi già nên chẳng nhận ra chị rồi!
Ghế đây! Mời chị cứ ngồi
Nhưng này, sao chị đi chơi một mình?”
“Dạ thưa! Theo lệnh Thiên đình
Ngọc Hoàng cắt cử một mình cháu thôi”
Hằng Nga tay chỉ lên giời
Cuội đang ngủ gật vẫn ngồi gốc đa
“Hôm nay cháu kể chuyện nhà
Dưới trần các bác gọi là Trung Thu”
Lúc này gió thổi vi vu
Trời quang chẳng có mây mù bay qua
Cơm xong các cháu tuôn ra
Dắt tay là bố, mẹ, bà hoặc ông
Đèn ông sao với đèn lồng
Đội lân, sử tử, múa rồng đi theo
Chị Hằng đôi mắt trong veo
Trái tim hồi hộp nhìn theo ánh đèn
Chắc là kể chuyện chưa quen
Trong khi trai tráng cứ chen vào nhìn
Tỉ năm mà vẫn Xì tin
Lung linh như chiếc đèn pin sạc đầy
Trung Thu đã đến rồi đây
Hằng Nga xin kể chuyện này…rằng thưa:
“Chuyện rằng xưa cực kỳ xưa
Hồi mà trái đất còn chưa hình tròn
May nhờ A rít sờ tôn (Aristote)
Ổng soi Nguyệt thực nên đồn đoán thôi
Hồi xưa có chục mặt trời
Cho nên quả đất nóng hơi bị nhiều
Chị Hằng đã có người yêu
Là chàng Hậu Nghệ bắn siêu cực kỳ
Mặt trời cũng chả là gì
Chàng giương nỏ bắn rụng thì chín ông
Dân yêu chàng lắm biết không?
Nhưng mà kẻ xấu Bồng Mông hại chàng
Vì Tây Vương Mẫu đi ngang
Tình cờ chàng gặp nên chàng bèn xin
Một viên bất lão trường sinh
Chàng đưa chị giữ bên mình thường xuyên
Biết đây là loại thuốc tiên
Bồng Mông giả ốm nằm yên ở nhà
Nhân chồng chị phải đi xa
Bồng Mông rút kiếm để mà chiếm thôi
Tình hình nguy cấp đến rồi
Chị bèn lấy thuốc nuốt trôi bụng mình
Thế là người chị nhẹ tênh
Chị như quả bóng bồng bềnh bay lên
Mặt trăng nằm ở phía trên
Chị đành bíu lấy trèo lên đó ngồi
Khi chồng chị biết chuyện rồi
Suốt ngày ngửa mặt lên trời gọi tên
Vì thương nhớ chị không quên
Chàng bày hương án ở trên vườn nhà
Bao nhiêu quả với lại hoa
Những gì chị thích bày ra để thờ….
Từ ngày ấy đến bây giờ
Người ta Bái Nguyệt để chờ chị ban
Thật nhiều may mắn bình an
Và xua đi hết muôn vàn khổ đau”

Chị Hằng kể chuyện quá lâu
Các em bèn hỏi “Cuội đâu chị Hằng?”..
Chị Hằng tiếp tục kể rằng
Ngày xưa Cuội vốn là thằng Tiều phu
Một hôm vào giữa mùa Thu
Cuội ta vác búa vào khu rừng già
Bốn con hổ nhỏ phi ra
Cuội lia đại búa chết ba con liền
Con còn lại cũng quy tiên
Bỗng đâu hổ mẹ rất hiền hiện ra
Nó gầm to bố tổ cha
Cuội trèo tót tận ngọn đa tránh đòn
Chắc là hổ mẹ thương con
Nó đi hái lá vo tròn mớm cho
Bốn con hổ nhỏ chết co
Tự dưng sống lại như cho phép thần…
Hổ đi Cuội tụt xuống dần
Lấy rìu đánh gốc rồi khuân về nhà
Giữa đường gặp một ông già
Ăn mày chết đói thành ma bên đường
Cuội ta liền nổi lòng thương
Lấy ngay chút lá rồi nhường cho ông
Sau khi Cuội mớm lá xong
Ông già tỉnh dậy rồi ông giật mình:
“Cây này cải tử hoàn sinh
Con về chăm sóc nhiệt tình nghe không?
Con trồng nó ở phía Đông
Hàng ngày phải tưới nước trong vài lần”
Cuội ta sung sướng muôn phần
Tiếng lành đồn đại từ gần đến xa
Con chó nuôi giữ trong nhà
Là con chó chết Cuội ta cứu về
Cuội còn nổi tiếng khắp quê
Vật, người bị chết Cuội về chữa ngay
Thuốc tiên cải tử lạ thay
Hồi sinh từ lá của cây bên nhà
Một hôm có một ông già
Nhà giàu, cha của Hằng Nga bấy giờ
Ông già gặp Cuội và nhờ
Cứu cho con gái bất ngờ chết trôi
Sau khi Cuội cứu được rồi
Cô bèn cảm tạ ngỏ lời cầu hôn
Cuội ta thấy thế mừng rơn
Còn gì sung sướng được hơn vợ chồng…
♥♥♥
Nhưng rồi đời cứ long đong
Giữ chi báu vật ở trong nhà mình
Thuốc là cải tử hoàn sinh
Giặc kia cũng rất vô tình đi qua
Biết Cuội cất thuốc trong nhà
Lập mưu chúng giết Hằng Nga thế rồi
Ruột moi chúng thả sông trôi
Cuội không cứu nổi đành ngồi bó tay
Con chó Cuội cứu trước đây
Trả ơn xin tự phanh thây của mình
Dạ người lòng chó phân minh
Chị Hằng được cứu lại xinh như thường
Cuội ôm con vật đáng thương
Nặn lòng bằng đất Cuội tương đại vào
Chó ta lại thở phều phào
Cả người và vật vui sao xum vầy…
♥♥♥
Nhưng từ cái sự việc này
Chị Hằng đổi tính, suốt ngày hay quên
Cái cây thuốc nói ở trên
Hằng Nga chả nhớ vì quên lời chồng
“Đ-ái bên Tây, cấm bên Đông”
Hằng Nga nhầm tí, cây dông lên trời
Níu cây bằng được mới thôi
Cuội cầm chiếc búa rồi chơi một rìu
Thế là buồn thỉu buồn thiu
Cả cây lẫn Cuội cùng rìu bay lên
Mặt trăng vốn dĩ ở trên
Cuội ta táp xuống rồi quên về nhà
Cuội giờ vẫn ngủ gốc đa
Các em ra ngắm Thiên hà mà coi”
Chị Hằng kể chuyện đứt hơi
Đến khuya bọn trẻ vẫn chơi sân đình
Càng khuya chị ấy cành xinh
Kể xong nhằm hướng Thiên đình chị bay
Cuội ta sắp dậy đi cày
Hay còn ngủ gật tối ngày gốc đa?
Bái bai chị nhé Hằng Nga
Sang năm chị xuống chắc là xinh hơn!

Hướng dẫn cách xem tuổi kim lâu

Dân gian Việt Nam từ lâu đã có câu : “Lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông”. Xem tuổi đàn bà ở đây là xem tuổi người phụ nữ đó có phạm Kim Lâu hay không. Xem tuổi đàn ông làm nhà là xem có phạm 1 trong 4 hạn là Tam tai – Kim Lâu – Hoang Ốc và sao Thái Bạch chiếu mạng trong năm đó hay không. Chỉ cần phạm 1 trong 4 hạn là không xây nhà được. Nếu vẫn muốn xây thì phải tìm cách hóa giải tỷ như chọn giờ động thổ, nhập trạch, phương hướng an vị,…

Cách tính Kim Lâu

Cách tính Kim Lâu cho Nam

  • Lấy số tuổi (tính theo tuổi các cụ [tuổi mụ) chia cho 9, số dư mà = 1, 3, 6, 8 thì là phạm Kim Lâu (tính để xem tuổi làm nhà, sửa nhà)
  • Nếu dư 1 là phạm Kim lâu thân (Gây tai hoạ cho bản thân người chủ)
  • Nếu dư 3 là phạm Kim lâu thê (Gây tai hoạ cho vợ của người chủ)
  • Nếu dư 6 là phạm Kim lâu tử (Gây tai hoạ cho con của người chủ
  • Nếu dư 8 là phạm Kim lục súc (Gây tai hoạ cho con vật nuôi trong nhà); Riêng cái này có phạm cũng không sao nếu bạn không phải người kinh doanh chăn nuôi hoặc quá yêu quý động vật

Cách tính Kim Lâu cho nữ

Lấy số tuổi (tính theo tuổi các cụ [tuổi mụ]) chia cho 9, số dư mà bằng 1, 3, 6, 8 là phạm Kim Lâu (tính theo tuổi lấy chồng)

Tóm lại – Các tuổi Kim Lâu cần tránh: 12, 15, 17, 19, 21, 24, 26, 28, 30, 33, 35, 37, 39, 42, 44, 46, 48, 51, 53, 55, 57, 60, 62, 64, 66, 69, 71, 73, 75.

Kim lâu gồm có , Kim Lâu Thân kỵ bản thân mình, Kim Lâu Thê kỵ vợ, Kim Lâu Tử kỵ con, Kim Lâu Súc kỵ chăn nuôi gia súc. Các cung phạm kim lâu là Khôn, Càn, Cấn, Tốn, Các cung không phạm là Đoài, khảm, Chấn , Ly, ngũ Trung.
Cách tính như sau:Theo quy luật chuyển cung bát quái, thuận kim đồng hồ, cứ cách một cung phạm Kim lâu thì một cung không phạm kim lâu.nếu bạn nào sáng ý có thể điểm trên bàn tay cũng tính được kim lâu.
Mười tuổi khởi tại cung khôn phạm kim lâu Thân, 11 tuổi tại cung Đoài Không phạm, 12 tuổi tại cung Càn phạm kim lâu thê, 13 tuổi tại cung Khảm không phạm, 14 tuổi tại Cấn phạm kim lâu Tử, 15 tuổi tại Chấn không phạm, 16 tuổi tại Tốn phạm kim lâu Súc, 17 tuổi không phạm, 18 tuổi tại Khôn phạm kim lâu Thân, 19 tuổi tại Đoài không phạm. 
  • Hai mươi  tuổi khởi tại cung Đoài không phạm kim lâu, 21 tuổi tại cung Càn  phạm phạm kim lâu Thê, 22 tuổi tại cung Khảm Không  phạm kim lâu, 23 tuổi tại Cấn phạm phạm kim lâu Tử, 24 tuổi tại Chấn không phạm kim lâu25 tuổi tại Tốn phạm kim lâu Súc, 26 tuổi tại Ly không phạm kim lâu27 tuổi Khôn phạm kim lâu Thân, 28 tuổi tại Đoài không phạm kim lâu, 29 tuổi tại Càn phạm kim lâu Thê. 
  • 30 tuổi, 40 tuổi, tiếp tục chuyển thuận kim đồng hồ như 10 tuổi và 20 tuổi
  • 50 tuổi khởi tại ngũ trung không phạm kim lâu, 51 tuổi chuyển đến Cấn phạm kim lâu Thê, 52 tuổi Chấn không phạm, tiếp tục chuyển thuận kim đồng hồ.
  • 60 tuổi, 70 tuổi cũng tính chuyển thuận kim đồng hồ trên bát quái  như 10 tuổi, 20 tuổi, 30 tuổi, 40 tuổi .

Cách hóa giải vận hạn năm Kim Lâu

Các chuyên gia cho biết, theo tài liệu cổ và kinh nghiệm dân gian nếu gặp những năm “tứ kim lâu”“lục hoàng ốc” hoặc “tam tai” thì không nhất thiết không xây dựng hoặc cưới gả. Theo cách “có đóng, có mở” rất linh hoạt và giải toả tâm lý cho gia chủ có thể hoá giải như sau:
Nếu gặp năm Tứ kim lâu hoặc Tam tai thì gia chủ có thể “mượn tuổi” nghĩa là nhờ một người khác (thường là người thân) có tuổi không phạm phải Tứ kim lâu và Tam tai đứng ra thay để thực hiện công việc (cúng bái, động thổ, trông coi việc xây cất…). Nếu gặp năm Hoàng ốc thì sau khi xây cất xong, gia chủ trước khi đến ở (nhập) cho người khác (thường là người thân, không chạm Hoàng ốc) đến ở một thời gian, sau đó mới dọn đến ở chính thức. Việc cưới xin nếu gặp Kim lâu thì “xin dâu hai lần” để hoá giải việc “đứt gánh giữa đường”! .

Hướng dẫn xem ngày cưới hỏi và tính tuổi kết hôn để có hạnh phúc viên mãn

Đám cưới là khi các cặp đôi trai gái quyết định lấy nhau để đi đến hôn nhân. Để tổ chức một đám cưới trọn vẹn thì ông cha ta thường xem ngày cưới hỏi theo tuổi vợ chồng để chọn được ngày kết hôn đẹp nhất. Có thể nói đây là một tục lệ tốt đẹp xuyên suốt từ ngàn xưa đến nay của dân tộc ta. Bởi lẽ cưới hỏi là một dấu mốc, bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của mỗi người. Cho nên coi ngày cưới không chỉ là một phong tục mà còn quyết định đến sự hạnh phúc êm ấm của các cặp vợ chồng trong tương lai.

1. Tại sao cần xem ngày cưới?

Xem ngày cưới hỏi đẹp là chuyện tất yếu trong văn hóa Việt từ xưa này. Ông bà ta tin rằng vận mệnh tử vi, hay phong thuỷ ngũ hành sẽ tác động lẫn nhau tới mỗi con người và có tác động trong mọi mối quan hệ. Nếu xem tuổi vợ chồng hợp nhau thì hôn nhân vẹn tròn đầm ấm, nếu xung khắc thì dễ dẫn tới chia ly. Tuy nhiên, để chọn được ngày thích hợp thì cần xem cả ngày sinh tháng đẻ của cô dâu chú rể nữa

2. Căn cứ để xem ngày cưới là gì?

Theo các chuyên gia Thuật số học: Xem ngày cưới hỏi nên chọn các ngày sau: Ngày bất tương (sao bất tương), ngày Hoàng đạo, ngày Tốc hỷ, ngày Đại An. Đồng thời để tránh những ngày xấu, hắc đạo để không ảnh hưởng đến cuộc hôn nhân. Đặc biệt nếu phạm Kim lâu thì năm tuyệt đối không thể cưới được. Vì năm hạn này sẽ làm xấu đi mối quan hệ vợ chồng trong tương lai. Cho nên tuyệt đối tránh kết hôn khi cô gái đến tuổi Kim Lâu.

a. Xác định ngày cưới tốt

Ngày Bất tương

Khi lập kế hoạch đám cưới, ông bà ta thường xem ngày cưới tốt nhất để nên duyên vợ chồng cho đôi lứa. Và thật là may mắn nếu như chọn được ngày đúng vào ngày Bất Tương thì quả là sự may mắn càng được nhân đôi. Bất là không và tương có ý nghĩa là tương hợp. Có thể hiểu là không bị Âm tương, Dương Tương, không bị cụ Tương và bất tương được xem là ngày đại kiết để dựng vợ gả chồng.Ngày hoàng đạo Nếu ngày bất tương là ngày đẹp, âm dương được cân bằng thì ngày hoàng đạo là ngày đẹp có các sao tốt chiếu. Không chỉ trong cưới hỏimà ngày hoàng đạo luôn là căn cứ lựa chọn để thực hiện mọi công việc. Đặc biệt là những công việc trọng đại trong đời. Bởi khi công việc thực hiện trong ngày này đều được xem là may mắn cho sự khởi đầu. Ngược lại tuyệt đối tránh ngày hắc đạo để những điều xấu sẽ không có cơ hội xảy ra.

Ngày Tốc hỷ

Ngày Tốc hỷ trong phương pháp xem ngày cưới tốt theo Lục diệu là một ngày có tính chất mang đến niềm vui nhanh chóng, may mắn bất ngờ. “Tốc” có nghĩa là sự nhanh chóng, mau lẹ, bất ngờ, nó diễn ra một cách nhanh chóng mặt (người ta vẫn thường nói tốc độ, thần tốc, tốc chiến tốc tháng, tốc hành, dục tốc bất đạt…), “hỷ” có nghĩa là niềm vui, hạnh phúc, tin mừng (giống như đám cưới hoặc nhận được tin thi đỗ, thăng chức vậy). Hiểu một cách đầy đủ thì Tốc hỷ là niềm vui, may mắn, thành công diễn ra một cách nhanh chóng, bất ngờ. Như vậy, ngày Tốc Hỷ là một ngày tốt nên sử dụng để tiến hành nhiều công việc quan trọng như động thổ khởi công xây dựng, xuất hành cầu tài, khai trương, nhậm chức, nhập học, ký kết hợp đồng, xuất nhập hàng hóa, mua sắm phương tiện giao thông, quảng cáo, kết hôn, lễ cưới, ăn hỏi…

Ngày Đại an 

“Đại” có nghĩa là lớn, là rộng, là sâu, là bền, là vững mạnh, chắc chắn, lâu dài, ổn định, “an” có nghĩa là bình an, được bảo vệ che chở, vui vẻ, hạnh phúc, thành công, thuận lợi, suôn sẻ, yên ả…Như vậy, Đại an là ngày có ý nghĩa là mang lại sự bình an, yên ổn, thịnh vượng, thành công, may mắn, bền vững trường tồn kéo dài. Như vậy, căn cứ vào đặc điểm của trạng thái Đại an là gì trong Lục diệu ta sẽ thấy quẻ này cát lợi về nhiều phương diện, góc độ. Nó hoàn toàn không có mặt hạn chế, bất cập nào cả. Chính vì lẽ đó nhiều công việc tốt cho ngày Đại An như sau: Nhập học, nhậm chức, khai trương, cầu tài, xuất hành, ký kết hợp đồng, động thổ xây dựng nhà cửa, tổ chức hôn lễ, mua sắm phương tiện giao thông, cầu thầy bốc thuốc trị bệnh, an táng, cải táng… gặp được ngày này chủ nhân sẽ vinh hiển, đại cát, thăng tiến, tài lộc dồi dào, gia đạo an khang, phúc lộc đầy nhà.

b. Xác định những ngày xấu cho lễ cưới

Xem ngày cưới nên tránh các ngày khắc với bản mệnh của Chú rểCô dâu. Để tránh gặp tai ương ảnh hưởng đến hạnh phúc trong tương lai của vợ chồng trẻ. Đó là ngày Tam nương, ngày có các sao xấu như Sát chủ, Không phòng, Không sàng, Tứ thời cô quả, Kiếp sát…Tránh các trực Phá, Kiên, Bình, Thu.

Tuổi Kim Lâu

Trong dân gian Việt từ lâu đã có câu “Lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông”. Nghĩa là tuổi của người phụ nữ phải xem có phạm Kim Lâu hay không. Trường hợp năm đótuổi người phụ nữ phạm vào Kim Lâu thì sẽ không tốt cho việc cưới hỏi.
Cách tính phạm Kim Lâu là lấy tuổi mụ của nữđể chi cho 9 nếu dư: 1,3,6,8 nghĩa là đã phạm vào Kim Lâu. Nếu tổ chức đám cưới sẽ không tốt cho cuộc sống của hai vợ chồng và đường con cái. Nếu muốn xem ngày cưới vào những năm Kim Lâu thì phải đợi qua ngày Đông Chí, là ngày rơi vào dịp cuối năm.
Bên cạnh đó, việc cưới gả nhất thiết cần tránh những ngày: Thiên đả, Thiên lôi, Tam cường, Tam nương, Sát chủ, Thiên ma.
– Ngày Thiên đả tháng nào cũng có. Đó là vào các ngày sau: Tháng giêng, hai, ba là ngày Dần, Sửu, Tuất. Tháng 4,5,6 là ngày Tị, Thìn, Hợi. Tháng 7,8,9 là các ngày Ngọ, Mão, Tí. Tháng 10,11,12 là các ngày Mùi, Thìn, Dậu.
– Ngày Thiên lôi chỉ xuất hiện trong 1 số tháng của năm. Đó là ngày Tí của tháng giêng và tháng 7, ngày Ngọ của tháng 4 và tháng 10, ngày Thân của tháng 5 và tháng 11, ngày Tuất của tháng 6 và tháng 12.– Ngày Thiên ma xuất hiện nhiều trong cả năm. Cụ thể vào 3 tháng mùa xuân, ngày Thiên ma là các ngày Mùi, Tuất, Hợi. Ba tháng hạ nó là các ngày Thìn, Tị, Tý. Ba tháng thu nó là ngày Thân, Dậu, Sửu. Ba tháng đông nó là các ngày Dậu, Mão, Ngọ.
– Ngày Tam cường là các ngày mồng 8, 18, 28 hàng tháng.
– Ngày Tam nương là các ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27 hàng tháng.
– Đặc biệt, ngày sát chủ là ngày đại kỵ không chỉ với việc hôn nhân mà trong hầu hết các công việc lớn như khai trương, động thổ, bỏ nóc… người ta đều kiêng. Trong các tháng, ngày đó là các ngày như sau: Tháng giêng ngày Tị, tháng hai ngày Tý, tháng 3 ngày Mùi. Tháng 4 ngày Mão, tháng 5 ngày Thân, tháng 6 ngày Tuất, tháng 7 ngày Sửu. Tháng 8 ngày Hợi, tháng 9 ngày Ngọ, tháng 10 ngày Dậu, tháng 11 ngày Dần, tháng 12 ngày Thìn.Ngoài ra, người miền Bắc cũng kiêng cưới xin vào ngày cuối tháng hay đầu tháng âm lịch, còn người miền Nam kiêng cưới vào ngày rằm, mùng một hay ngày Phật đản vì đó là những ngày ăn chay, nhiều người sẽ không tới dự tiệc cưới mặn, và đặc biệt thì những ngày rằm mùng 1 còn kiêng chuyện động phòng, không chọn xem ngày cưới vào những ngày này.
Nếu cô dâu chú rể đang gặp hạn Tam Tai thì cũng tránh kết hôn. Trong đó, người tuổi Thân-Tí-Thìn gặp Tam tai vào năm Dần-Mão-Thìn; người tuổi Dần-Ngọ-Tuất gặp Tam tai vào năm Thân-Dậu-Tuất; người tuổi Tị-Dậu-Sửu gặp Tam tai vào năm Hợi-Tí- Sửu, người tuổi Hợi-Mão-Mùi gặp Tam tai vào năm Tị-Ngọ-Mùi.
Hơn nữa, ông bà ta còn xét tới một số hung niên mà con trai kị lấy vợ, con gái kị gả chồng. Ví dụ con trai tuổi Tí kị lấy vợ năm Mùi, con gái tuổi Tí kị lấy chồng năm Mão…

3. Chọn giờ, ngày làm lễ, đãi tiệc

Giờ đón dâu, rước dâu hay làm lễ cũng cần phải được cử hành vào “giờ hoàng đạo”, như thế sẽ giúp cho vợ chồng sau này được yên ấm. Kế hoạch cưới phổ biến hiện nay là nhà trai đón dâu vào sáng sớm, sau đó tổ chức tiệc cưới ngay buổi trưa cùng ngày. Như vậy thời gian nghỉ giữa hai nghi lễ hầu như không có, gây mệt mỏi cho đôi uyên ương. Nếu không gấp gáp, bạn nên đón dâu vào buổi sáng và tổ chức tiệc vào buổi tối.
Ở mỗi vùng miền khác nhau thì quan niệm về việc xem ngày tổ chức tiệc cưới cũng khác nhau. Chẳng hạn ở miền Bắc, người ta thường chọn đúng vào ngày tốt để tổ chức tiệc. Còn người miền Nam thì không quan trọng ngày tốt lắm mà họ thường chọn vào ngày cuối tuần.
Để hôn lễ diễn ra suôn sẻ, bên cạnh xem tuổi vợ chồng kết hôn, cô dâu chú rể cũng nên lưu ý những điều kiêng kỵ sau:
  • Kiêng tổ chức đám cưới khi chưa hết thời gian phát tang
  • Khi đám rước dâu đi đến các cây cầu, ngã 3, ngã 5… thì cô dâu cần vứt tiền lẻ, gạo, muối xuống đường. Việc này ngụ ý cuộc sống vợ chồng sau này được suôn sẻ, giàu sang đủ đường.
  • Không nên tổ chức cưới trước khi làm lễ ăn hỏi.
  • Đồ vật mang tính “hung” như đồ sắc nhọn, có gai, búp bê trang trí, đồ cũ, hình ảnh của người khác… không nên xuất hiện trong phòng tân hôn để tránh tổn thương hòa khí vợ chồng.

4. Năm tuổi của vợ, chồng có cưới được không?

Năm tuổi là năm có địa chi (Tý, Sửu, Thìn…) trùng với cầm tinh của vợ/chồng. Những năm này được xem là năm hạn vì phạm phải sao Thái Tuế. Thông thường, vào năm tuổi, người xưa thường kiêng các việc lớn như cưới hỏi, mua nhà, tậu trâu…
Tuy nhiên, không phải lúc nào năm tuổi cũng là xấu. Bởi một năm có xấu hay không còn tùy thuộc vào bát tự, mệnh, sự xung khắc của tuổi trong năm đó. Tốt nhất cô dâu chú rể nên tránh cưới hỏi vào năm tuổi. Trong trường hợp bắt buộc, bạn có thể dựa vào bát tự để xem bản thân mình có thể cưới xin hay hóa giải hay không?
Nếu phải cưới, các đôi uyên ương có thể tổ chức tiệc cưới trước nhưng các nghi lễ cưới hỏi thì chọn thời điểm phù hợp hơn.

5. Kết hôn nên xem tuổi âm hay dương?

Thông thường, khi xem tuổi cho việc cưới xin, người xưa thường xem tuổi âm lịch của đôi vợ chồng tương lai. Bởi tuổi này sẽ giúp cho uyên ương biết được năm dự định cưới có hợp với bản mệnh của cả hai hay không? Thêm vào đó, nếu có xung khắc, bạn cũng sẽ có cách hóa giải để cuộc sống hôn nhân suôn sẻ và trọn vẹn.
Bên cạnh xem ngày cưới, theo tử vi, mỗi năm sẽ có 2 tháng đại cát và đại lợi, thuận lợi cho việc cưới xin, tùy theo tuổi của vợ/chồng. Các cặp đôi có thể tham khảo thông tin dưới đây để chọn tháng cưới phù hợp với cả hai nhé:
  • Tuổi Tý, Ngọ:  Tháng 6, tháng Chạp
  • Tuổi Sửu, Mùi: Tháng 5, tháng 11
  • Tuổi Dần, Thân: Tháng 2, tháng 8
  • Tuổi Mão, Dậu: Tháng Giêng, tháng 7
  • Tuổi Thìn, Tuất: Tháng 4, tháng 10
  • Tuổi Tỵ, Hợi: Tháng 3, tháng 9
Hôn nhân là chuyện đại sự của đời người nên việc xem ngày cưới đẹp để tổ chức hay chọn ngày ăn hỏi rất được coi trọng. Đây là nét văn hóa của người Việt Nam ta từ xưa đến nay. Ông bà ta xem tuổi chọn ngày chính là mong muốn mang tất cả những điều tốt lành nhất đến với hai con người sắp nên duyên chồng vợ. Nói chung, việc chọn ngày cưới phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả khách quan lẫn chủ quan nên bạn cần phải cân nhắc thật cẩn thận. Ông cha ta có câu “Có thờ có kiêng, có thiêng có lành”, vì vậy, cẩn thận cũng sẽ không thừa. Mr DeYeu hy vọng bài viết trên đây đã cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích. Chúc các bạn hạnh phúc dài lâu!

Tổng hợp những câu status hay về miệng lưỡi thế gian, khẩu nghiệp, thị phi

1. Đừng nên làm con nhím xù lông, phóng vào người khác lại làm tổn thương chính mình. Có một số việc không cần phải ghi nhớ ở trong lòng. Đọc tiếp “Tổng hợp những câu status hay về miệng lưỡi thế gian, khẩu nghiệp, thị phi”

Tiếng Việt

Có ông Mỹ kia lấy vợ Việt, ông biết ăn cả lòng heo và khen mắm tôm ngon, ông ta lại chịu khó học nói tiếng Việt để cho vợ vui lòng.
Bữa nọ, hai vợ chồng ra hồ nước chơi, chồng hỏi:
Con hồ này đẹp quá hả em?
Vợ anh ta chỉnh: Anh phải kêu là cái hồ.
Hôm sau đi chèo thuyền trên sông, anh khen: Cái sông này cũng đẹp.
Vợ lại chỉnh: Anh phải kêu là con sông.
Chồng: Sao tiếng xứ em kỳ cục quá vậy, cũng là nước, mà khi gọi là cái, lúc gọi là con?
Vợ : Tại anh không để ý chớ… thí dụ nè:
cái nhà, cái bàn, cái tủ, nó đứng ỳ một chỗ nên gọi là cái
Con mèo, con chó, con gà nó chạy tới, chạy lui nên gọi là con.
Tương tự như vậy:
cái hồ nằm yên trong khi con sông nó chảy…
Anh chồng vỗ đùi cái đốp rồi cười hỉ hả: Hèn chi…
cái của anh nó cứ nhúc nhích cục cựa nên gọi là con…
còn con của em nó cứ nằm ỳ một chỗ nên gọi là cái…